VITAMIN B6

Vitamin B6 là một loại vitamin hòa tan trong nước và là một phần của nhómvitamin B. Pyridoxal phosphat (PLP) là dạng hoạt động và là tác nhân képtrong một số phản ứng chuyển hóa axit amin. PLP cũng cần thiết cho phản ứng lên men tạo glucose từ glycogen.
1. CÁC DẠNG VITAMIN B6
Một số dạng vitamin B6 đã được tìm thấy:
-Pyridoxine (PN), dạng phổ biến nhất được tìm thấy và thường dung làm thực phẩm bổ sung.
-Pyridoxine 5’-phosphate (PNP).
-Pyridoxal (PL)
-Pyridoxal 5’-phosphate (PLP), dạng hoạt động khi trao đổi chất (được bán dưới tên “P-5-P”).
-Pyridoxamine (PM).
-Pyridoxamine 5’-phosphate (PMP).
-4-Pyridoxic acid (PA), một thành phần dị hóa được bài tiết trong nước tiểu.
-Pyritinol, một dẫn xuất bán tổng hợp của pyroxidine, hai nhóm pyridoxine nối với nhau bằng cầu nối disulfide.
Tất cả các hình thức trừ pyridoxic acid và pyritinol có thể được chuyển đổi qua lại lẫn nhau. Hấp thụ pyridoxamin sẽ được huyển hóa sang PMP bởi kinase pyridoxal, sau đó tiếp tục chuyển đổi sang PLP bới pyridoxamin-phosphate transaminase hoặc pyridoxine 5’-phosphate oxidase, chúng còn là xúc tác cho việc chuyển đổi của PNP đề thành PLP. Pyridoxine 5’-phosphate oxidase phụ thuộc vào flavin mononucleotide (FMN) như là một cofactor được sản xuất từ riboflavin (vitamin B2), tức là trong con đường sinh hóa này, chế độ ăn uống chứa vitamin B6 khơng thể được hoàn thành nếu thiếu vitamin B2.
2. CHỨC NĂNG
PLP, hình thức trao đổi chất của vitamin B6 có liên quan đến nhiều khía cạnh của quá trình chuyển hóa thành phần dinh dưỡng, tổng hợp chất dẫn truyền thần kinh, tổng hợp histamine, tổng hợp và chức năng hemoglobin, và biểu hiện gen. PLP thường đóng vai trò như là một coenzyme (cofactor) cho nhiều phản ứng bao gồm phản ứng khử carbonxyl, transamination, raxemic hóa, loại bỏ, thay thế và chuyển hóa nhóm beta. Gan là trung tâm chính trong quá trình chuyển hóa vitamin B6.
a. Chuyển hóa amino acid
-PLP là một cofactor trong quá trình sinh tổng hợp của 5 dẫn truyền thần kinh quan trọng: serotonin, dopamine, epinephrine, norepinephrine và acid gamma-aminobutyric (GABA). PLP cũng tham gia và quá trình tổng hợp histamine.
-Transaminase phá vỡ các acid amin bằng PLP như là một cofactor. Các hoạt động có quy tắc của enzyme rất quan trọng trong quá trình di chuyển nhóm amin từ một acid amin khác.
-Senine racemase tổng hợp nên các serine neuromodulator là một enzyme phụ thuộc PLP.
-PLP là một coenzyme cần thiết cho hoạt động của các enzyme synthase cystathionine và cystathionase. Các enzyme xúc tác các phản ứng trong quá trình dị hóa của methionine. Một phần của con đường này (các phản ứng xúc tác bởi cystathionase) cũng sản xuất cysteine.
-Selenomethionin là dạng thu được từ ăn uống của selen. PLP như một cofactor của các enzyme cho phép selenium được sử dụng từ ăn uống. PLP củng đóng vai trò là một cofactor trong việc hình thành selen từ selenohomocysteine để sản xuất hydro selenua, mà sau đó có thể được sử dụng để kết hợp selenium vào selenoproteins.
-PLP là cấn thiết cho quá trình chuyển đổi tryptophan thành niacin, thiếu vitamin B6 là suy giảm chuyển hóa này.
b. Chuyển hóa Glucose
PLP là một coenzyme của glycogen phosphorylase, các enzyme cần thiết cho quá trình glycogenolysis diễn ra. PLP xúc tác cho phản ứng transamination để cung cấp các acid amin như là một chất nền cho gluconeogenesis.
c. Chuyển hóa Lipid
PLP là một thành phần thiết yếu của các enzyme nhằm tạo thuận lợi cho sự sinh tổng hợp của sphingolipids. Đặc biệt, tổng hợp ceramide đòi hỏi PLP. Trong phản ứng này, serine được decarbonxylated và kết hợp với palmitoyl-CoA để tạo thành sphinganine để kết hợp với một acyl-CoA báo để tạo thành dihydroceramide. Sản phẩm của dihydroceramide dủng để tạo thành ceramide. Ngoài ra, sự thủy phần của sphingolipids cũng phụ thuộc vào vitamin B6 vì S1P lyas e là các enzyme chịu trách nhiệm phân giải sphingosine-1-phosphate cũng phụ thuộc vào PLP.
d. Tổng hợp và chức năng Hemoglobin
PLP hỗ trợ trong việc tổng hợp hemoglobin bẳng cách hoạt động như một coenzyme cho các enzyme ALA synthase. Nó cũng liên kết hai nhóm hemoglobin để tăng cường sự gắp kết oxy của hemoglobin.
e. Biểu hiện gen
PLP có liên quan đến việc tăng giảm sự biểu hiện gan nhất định. Việc tăng mức nội bào của các vitamin dẫn đến hiện tượng sụt giảm việc phiên mã glucocorticoid. Ngoài ra, thiếu hụt vitamin B6 dẫn đến sự tăng cường biểu hiện gane albumin mRNA. Ngoài ra, PLP ảnh hưởng đến sự biểu hiện của glycoprotein llb bằng cách tương tác đến các yếu tố phiên mã khác nhau. Kết quả là ức chế kết tập tiểu cầu.
3. DINH DƯỠNG
a. Các nguồn thực phẩm chứa vitamin B6
Vitamin B6 phân bố rộng rãi trong thực phẩm ở cả 2 dạng tự do và dạng phức hợp. Nấu ăn, bảo quản và chế biến gây thiệt hại sự đa dạng của vitamin B6 và trong một số loại thực phẩm có thể hơn 50%, tùy thuộc vào các dạng của vitamin có trong thực phẩm. Thức ăn có nguồn gốc thực vật ít bị mất nhất trong chế biến, vì chúng chứa chủ yếu là pyridoxine, đó là dạng ổn định nhất hơn so với pyridoxal và pyridoxamin có trong thực phẩm có nguồn gốc động vật. Ví dụ, sữa có thể mất từ 30 – 70% hàm lượng vitamin B6 khi được sấy khô. Vitamin B6 được tìm thấy trong mầm và lớp nội nhũ cũa các hạt ngũ cốc, việc xay xát sẽ gây ra hiện tượng giảm vitamin này trong bột mì trắng. Đông lạnh và đóng hộp là phương pháp chế biến thực phẩm có thể gây mất vitamin B6 trong thực phẩm.
Các loại thực phẩm có chứa một lượng lớp vitamin B6 bao gồm thịt lợn, gà Tây, thịt bò, chuối, đậu gà, khoai tây và quả hồ trăn.
b. Hàm lượng cần thiết
Hàm lượng cho phép mỗi ngày được kiến nghị bởi Viện Y tế là 1,3 mg/ngày cho người lớn từ 19 – 50 tuổi.
c. Hấp thụ và bài tiết
Vitamin B6 được hấp thụ ở hỗng tràng và hồi tràng bằng cách khuếch tán thụ động. Với khả năng hấp thụ như vậy, động vật có thể hấp thụ lượng lớn hơn nhiều so với mức cần thiết của nhu cầu sinh lý. Sự hấp thụ phosphatr pyridoxal và pyridoxamin phosphate có liên quan đến hiện tượng dephosphoryl hóa dưới xác tác bởi một phosphatase kiềm khóa màng. Những sản phẩm và các dạng không phải phosphoryl trong đường tiêu hóa được hấp thụ bằng cách khuếch tán, chúng được chuyển qua bằng cách thu nhận vitamin như 5’-phosphates thông qua các hoạt động phosphoryl hóa (do một kinase pyridoxal) ở niêm mạc hồi tràng. Các pyridoxine được thu nhận và pyridoxamin được oxy hóa thành pyridoxal phosphate trong mô.
Các sản phẩm của quá trình chuyển hóa vitamin B6 được bài tiết qua nước tiểu, các sản phẩm của nó là acid 4-pyridoxic. Ước tính có khoảng 40 – 60% vitamin B6 khi ăn sẽ được oxy hóa thành acid 4-pyridoxic. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng 4-pyridoxic acid không bị phát hiện trong nước tiểu của các đối tượng thiếu vitamin B6, đây là một dấu hiệu lâm sàng khá hữu ích đẻ đánh giá tình trạng vitamin B6 của một cá nhân. Các sản phẩm khác của quá trình chuyển hóa vitamin B6 qua bài tiết khi dung liều cao vitamin bao gồm pyridoxal, pyridoxamin, và pyridoxine, các nhóm phosphate. Một lượng nhỏ vitamin B6 cũng được bài tiết trong phân.
4. THIẾU HỤT
a. Dấu hiệu và triệu chứng
Các triệu chứng ban đầu cho thiếu hụt vitamin B6 là một triệu chứng viêm da như tăng tiết bã nhờn, viêm teo lưỡi, viêm loét, viêm khóe miệng, viêm kết mạc, hăm da, và các triệu chứng thần kinh như buồn ngủ, lú lẫn, và các bệnh thần kinh khác (do tổng hợp sphingosin suy yếu) và thiếu máu do nguyên hồng cầu cầu chứa sắt (do tổng hợp heme suy yếu).
Trường hợp nhẹ hơn là tổn thương chuyển hóa kết hợp liên quan đến hoạt động của PLP coenzyme. Nổi bật nhất là tổn thương do mất đi sự chuyển đổi tryptophan-niacin. Điều này có thể được phát hiện thông qua kiểm tra acid xanhthurentic trong nước tiểu sau khi chuyển hóa tryptophan ở miệng. Sự thiếu hụt vitamin B6 cũng có thể dẫn đến sự suy yếu chuyển hóa sulfur của methionine đề thành cysteine. Các chuyển hóa transaminase và glycogen phospharylase phụ thuộc vào PLP để cung cấp các vitamin với vai trò trong chuyển hóa gluco, vì vậy mất đi vitamin B6 làm suy giảm sự dung nạp glucose.
b. Chẩn đoán
Việc đánh giá tình trạng vitamin B6 là điều cần thiết, như các dấu hiệu lâm sáng và triệu chứng trong trường ít nghiêm trọng là không cụ thể. Ba xét nghiệm sử dụng rộng rãi là các hệ số hoạt động enzyme hồng cầu aspartate aminotransferase, nồng độ PLP plasma, và các sản phẩm chuyển hóa của vitamin B6 trong nước tiểu, cụ thể là PA. Trong đó, PLP plasma có lẽ là biện pháp tốt nhất, vì nó phản ánh sự dự trữ của mô. PLP Plasma dưới 10nmol/l là biểu hiện của sự thiếu hụt vitamin B6. Nồng độ PLP lớn hơn 20nmol/l được chọn là mức an toàn tại Mỹ. PA được thải ra ngoài cụng là một chỉ số thể hiện sự thiếu hụt vitamin B6, dưới 3,0 nmol/ ngày là thiếu hụt vitamin B6.
Ngoài ra, kiểm tra các chỉ số ASt và ALT của gan có thể thấp do thiếu hụt pyridoxine.
Các hội chứng của thiếu hụt vitamin B6 là rất hiếm, thậm chí ở các nước đang phát triển. Một số ít trường hợp đã được nghiên cứu năm 1952 và 1953, đặc biệt tại Hoa Kỳ, và xảy ra ở một tỷ lệ phần trăm nhỉ ở trẻ được nuôi với công thức thiếu pyridoxine.
c. Nguyên nhân
Sự thiếu hụt vitamin B6 đơn độc thường không phổ biến và thường xảy ra cùng với các vitamin nhóm B khác. Những người lớn tuổi và những người nghiện rượu có nguy cơ thiếu hụt vitamin B6 cũng như thiếu hụt các chất dinh dưỡng khác. Bằng chứng cho thấy mức giảm của vitamin B6 ở phụ nữ mắc bệnh tiểu đường type 1 và bệnh nhân viêm nhiễm, bệnh gan, viêm khớp yếu tố thấp và những người bị nhiễm HIV. Sử dụng thuốc tránh thai và điều trị bắng thuốc chống co giất nhất định như isoniazid, cycloserine, penicillamine và hydrocortisone có tác dụng tiêu cực tới tình trạng của vitamin B6. Chạy thận nhân tạo gây giảm nồng độ vitamin B6 plasma. Có những dấu hiệu cho thấy thiếu vitamin B6 có thể ảnh hường bởi Theophylline trong thuốc hay chất dinh dưỡng.
d. Điều trị
Điều trị sự thiếu hụt vitamin B6 thường nằm ở việc thay thế dưới dạng pyridoxine hydrochloride, uống như thuốc xịt hoặc tiêm ở dạng dung dịch.
5. ĐỘC TÍNH
Các tác dụng phụ đã được ghi nhận từ các chất bổ sung vitamin B6 nhưng không từ các vitamin có trong thực phẩm. Độc tính độc tính trên động vật xác định việc tiêu hủy năm ở hạch rẽ lựng, đó là tài liệu ở người trong trường hợp dung quá liều pyridoxine. Mặc dù nó là một vitamin tan trong nước và bài tiết qua nước tiểu, tuy nhiên việc dung quá liều pyridoxine trong thời gian dài gây ra hậu quả đau nhức thần kinh không hồi phục.
Các triệu chứng chính là đau và tê các chi. Trong vài trường hợp, hệ thần kinh vận động có thể xảy ra hiện tượng “động cơ dẫn phản ứng chận, kéo dài thời gian trễ và độ trễ kéo dài ở 2 chi dưới”, gây khó khan cho việc đi bộ. Các bệnh thần kinh giác quan thông thường phát triển ở liều pyridoxine quá 1.000 mg mỗi ngày, nhưng tác dụng phụ có thể xảy ra ít hay nhiều, do đó liều trên 200mg là không an toàn. Các triệu chứng ở phụ nữ nếu dùng ở liều thấy đã được báo cáo. Hai trường hợp bệnh nhân thần kinh được điều trị bằng pyridoxine ở mức 24 và 40mg/ngày có thể do trùng hợp ngẩu nhiên.
Bởi vì không có nhiều nghiên cứu kiểm soát dược cho thấy lợi ích của việc điều trị pyridoxine ở liệu cao, và sự xuất hiện các tài liệu về hiệu ứng độc hại khá đáng kể, ít lý do tồn tại để vượt ngưỡng RDI cho phép trong việc bổ sung trừ dưới sự giám sát của bác sĩ như trong việc điều trị bằng hyperoxaluria.
6. MỤC ĐÍCH Y TẾ
Vitamin B6 được sử dụng trong điều trị buồn nôn hay nghén trong thai kì đầu trong nhiều thập kỉ, thường dung kết hợp với nhiều loại thuốc khác như metoclopramide hoặc doxylamine, Sử dụng đơn độc cũng an toàn và hiệu quả mặc dù nhân viên chăm sóc phụ nữ trước sinh phải hướng dẫn kỹ lượng trong điều trị các triệu chứng này.
Ít nhất một nghiên cứu sơ bộ đã tìm thấy vitamin này có thể làm tăng sự sống động của giấc mờ và khả năng nhớ các giấc mơ. Hiệu ứng nàu có thể là do cai trò của vitamin này trong việc chuyển đổi tryptophan thành serotonin. Có những bằng chứng cho thấy việc bổ sung vitamin B6 có thể được liên kết với những giấc mơ đẹp.
Lượng vitamin B6, từ một trong hai chế độ ăn uống hoặc bổ sung có thể giảm nguy cơ mắc bệnh Parkinson ở người hút thuốc đến 50%, theo nghiên cứu từ Hà Lan.
Bổ sung dinh dưỡng với vitamin B6 liều cao và Magie là một trong những sự lựa chọn thay thế phổ biến đối với thuốc chữa trị tự kỷ, nhưng những thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đã cho kết quả khác nhau và kích cỡ mẫu nhỏ. Điều đó cho thấy không có kết luận về tính hiệu quả của việc điều trị này.
Một nghiên cứu cho thấy sự kết hợp vitamin B6-magie cũng có thể giúp hiện tượng rối loạn thiếu chú ý, cải thiện hiện tượng quá hiếu động (hyperactivity), kích động/ gây hấn, và cải thiện sự chú ý ở trường.
Vitamin B6 cũng được trình bày trong hai nghiên cứu lâm sáng quy mô nhỏ có tác dụng trên hội chứng ống cổ tay, đặc biệt trong trường hợp không có chấn thương hay nguyên nhân chưa biết.
Pyridoxine có thể giúp cân bẳng nội tiết tố thay đổi ở nữ và hỗ trợ hệ thống miễn dịch.
Hiệu quả điều trị cho PMS, PMDD và trầm cảm lâm sáng gây nhiều tranh cãi. Mặc dù một nghiên cứu gần đây chỉ ra sự tăng hiệu quả của citalopram khi sử dụng chong magie và vitamin B6 ở người lớn mắc trầm cảm nghiêm trọng.
Uống một lượng vitamin b6 có thể làm giảm bớt các triệu chứng nôn nao nao và thai nghén khi mang thai. Điều này có thể do tác dụng của việc lợi tiểu nhẹ của thuốc. Mặc dù cơ chế này chưa được chứng minh, kết quả cho thấy pyridoaxamin có tác dụng điều trị trên lâm sàng cho các bệnh nhân bị bệnh thận do tiểu đường.
Vitamin B6 và mức PLP tỷ lệ nghịch với nguy cơ ung thư ruột kết. Trong khi mối tương quan đối với lượng vitamin B6 là vừa phải, có thể mang lại khả quan về mức PLP gây nguy cơ ung thư đại tràng giảm một nửa.
Động kinh có liên quan đến pyridoxine là một rối loạn di truyền rất hiếm và đặc trưng bởi các cơn động kinh khó chữa trong giai đoạn trước khi sinh và trẻ sơ sinh, có thể điều trị với một liều dược lý vitamin B6.
Pyridoxine được sử dụng cho bệnh nhân dung isoniazid (INH) để chống lại tác dụng phụ của thuốc.
Trong 1 dạng homocystinuria, hoạt động của các enzyme thiếu hụt có thể được tăng cường bởi sự quản lý của liều lượng lớn pyridoxine (100 – 1000 mg/ngày).


Tin tức liên quan
Blog
Bệnh do Giun tròn đầu móc ACANTHOCEPHALA
BỆNH DO GIUN TRÒN ACANTHOCEPHALA Acanthocephala ký sinh trên cá thường gặp một số loài: Acanthocephalus anguiilae, Echinorhynehus trusta, Pomphorhynchus laevis, Neoechinorhynchus rutili, Rhadinorhynchus sp. Ở Việt nam thường gặp loài Acanthocephalus ký sinh ở ruột một số loài cá. DẤU HIỆU Trùng ký sinh ở ruột cá, lấy chất dinh dưỡng làm ảnh hưởng...
Xem thêmBlog
Bệnh do Giun tròn CAPILARIA
BỆNH DO GIUN TRÒN CAPILARIA Giun Capilaria ký sinh ở ruột cá trắm cỏ, trắm đen, cá trôi, lươn… Ở Quãng Đông (Trung Quốc) phát hiện chúng ký sinh ở ruột cá trắm cỏ giống và cá trôi hương. DẤU HIỆU Giun Capilaria dùng đầu dùi vào thành ruột cá, gây viêm ruột, làm cá...
Xem thêmBlog
Bệnh do Giun tròn PHILOMETRA
BỆNH DO GIUN TRÒN PHILOMETRA Thiệt hại thường xảy ra đối với cá nhỏ, ở cường độ cảm nhiễm 5 – 9 ký sinh trùng có thể làm cá chết. Ký sinh hầu hết ở các loài cá tự nhiên. DẤU HIỆU Cá nhiễm bệnh di chuyển chậm, ảnh hưởng đến sinh trưởng, da cá...
Xem thêm